Sổ tay giáo dục
  • TỪ ĐỊNH NGHĨA BẢN CHẤT ĐẾN Ý THỂ (ARISTOTELÊS, khg 335-323 tCn)

    Về Ý thể, trước hết chúng ta phải xem xét ngay chính học thuyết này, không phải trong tương quan với bản chất đặc thù của những con số, mà dưới cái hình thức qua đó nó đã được nhận thức bởi các triết gia đầu tiên tin rằng những Ý thể tồn tại...

    Xem tiếp >>
  • «CHỈ CÓ KHOA HỌC VỀ CÁI PHỔ QUÁT» (ARISTOTELÊS, khg 335-323 tCn)

    Ta thường ghép ý niệm khoa học với ý tưởng về sự khám phá ra những hiện thực, và những hiện thực này là có thể với tới, nhận thức được. Như vậy, phải chăng cảm nhận bằng giác quan, hay nhận thức, là khoa học? Hoặc nếu nó không phải là khoa học, thì ta phải định nghĩa khoa học như thế nào? Đấy là vấn đề Aristotelês đặt ra ở đây (Organon, Derniers Analytiques)...

    Xem tiếp >>
  • NGUYÊN NHÂN MỤC ĐÍCH (ARISTOTELÊS, khg 335-323 tCn)

    Hơn nữa, chúng ta đều thấy, có nhiều nguyên nhân khác nhau cho mọi chuyển biến trong tự nhiên, như nguyên nhân mà sự chuyển biến nhắm tới (nguyên nhân cuối cùng) và nguyên nhân từ đó nó xảy ra (nguyên nhân khởi động) chẳng hạn...

    Xem tiếp >>
  • VẬT THỂ RƠI XUỐNG HOẶC BAY LÊN THEO ĐỊNH HƯỚNG TỰ NHIÊN (ARISTOTELÊS, khg 335-323 tCn)

    Khoa học của Aristotelês không phải là ngoại lệ. Nó dựa trên các nguyên lý siêu hình từng là nền tảng của một thứ vật lý học mà đời sau gọi là vật lý học định tính – thứ vật lý học đã khống chế khoa học suốt từ khi ra đời cho đến thế kỷ XVI-XVII, trước khi bị thay thế hoàn toàn...

    Xem tiếp >>
  • BỆNH THÙ GHÉT LÝ LUẬN (PLATÔN, giữa 387-370 tCn)

    Đoạn đối thoại giữa Sôkratês với Phaidôn này nằm trong phần tranh luận giữa Sôkratês* với Simmías* và Kébes* về tính bất tử của linh hồn, trước một cử tọa toàn bạn hữu. Vì sự hoang mang của mọi người trước các lập luận tuy đối kháng song đều nghe rất hữu lý được đưa ra...

    Xem tiếp >>
  • NỀN TẢNG CỦA GIÁ TRỊ (PLATÔN, giữa 399-390 tCn)

    Nếu câu trả lời ở thể xác định, thì chính chọn lựa của thần linh đã tạo ra, và là nền tảng của giá trị gọi là «cái thiện» này. Dù là hoàn toàn có thể hiểu được, giải đáp trên khiến ta không có lý do gì để ca ngợi thần thánh hết cả...

    Xem tiếp >>
  • HÃY TỰ TU THÂN SỬA TÍNH (PLATÔN, giữa 399-390 tCn)

    Thưa quý công dân Athênai, chỉ vì thiếu kiên nhẫn chờ đợi thêm chút nữa, quý vị đã tạo cơ hội cho người đời bêu riếu nền cộng hoà; họ sẽ nói rằng quý vị đã giết Sôkratês, một người hiểu biết...

    Xem tiếp >>
  • ĐỊNH NGHĨA BẢN CHẤT (PLATÔN, giữa 399-390 tCn)

    Đây là một trích đoạn được rút ra từ Euthyphrôn, một cuộc đối thoại giả tưởng được Platôn dựng lên vào khoảng năm 396-395 tCn, nghĩa là sau phiên xử Sôkratês (399 tCn), có thể sau cả Sôkratês Tự Biện Vu...

    Xem tiếp >>
  • CHÂN DUNG TRIẾT GIA III (PLATÔN, khoảng 380 tCn)

    SÔKRATÊS : Vậy thì, kẻ nào đảo mắt nhìn qua vô số sự vật đẹp đẽ nhưng vẫn không thấy nổi cái đẹp tuyệt đối, mà cũng chẳng theo nổi người muốn nâng mình lên tới tầm ngắm nghĩ này, kẻ nào nhìn thấy vô số chuyện công chính nhưng vẫn không thấy nổi bản thân công lý là gì, và còn bao nhiêu kẻ khác nữa...

    Xem tiếp >>
  • CHÂN DUNG TRIẾT GIA II (PLATÔN, giữa 399-390 tCn)

    Cả cuộc đời của Sôkratês là một minh họa sống động cho định nghĩa trên. Khi biết được câu thần dụ ở đền Delphoi* cho rằng Sôkratês là kẻ hiểu biết nhất, Ông đã dành cả phần đời còn lại để tìm hiểu ý nghĩa của câu thần dụ, tìm biết sự thật...

    Xem tiếp >>
  • CHÂN DUNG TRIẾT GIA I (PLATÔN, khoảng 369 tCn)

    Thật ra, chân dung triết gia ở đây chỉ là một thành kiến. Chỉ đoạn thứ nhì của câu cuối mới có thể phần nào được xem là thuộc quan tâm của triết gia một cách đúng đắn. Xem bài cùng tựa ở mục này...

    Xem tiếp >>
  • «TÔI TƯ DUY, VẬY TÔI HIỆN HỮU» (R. DESCARTES, 1637)

    «Tôi tư duy, vậy tôi hiện hữu» thuộc vào loại phát biểu triết học mà ngay cả những người đứng ngoài cửa Triết cũng đều biết, và vẫn còn là đầu đề tranh cãi sau bao phân tích và tìm hiểu, của bao tác giả...

    Xem tiếp >>
  • NGUYÊN LÝ TRIẾT HỌC (R. DESCARTES, 1647)

    Trích đoạn dưới đây được rút ra từ một bức thư của Descartes gửi Tu viện trưởng Claude Picot (1614-1668), người bạn đã dịch tác phẩm viết bằng tiếng La-tinh của ông dưới tựa là Principia philosophiae...

    Xem tiếp >>
  • TRIẾT HỌC THỰC CHỨNG (A. COMTE, 1830)

    Khác với Descartes, Triết học đối với Auguste Comte không thể cứ mãi mãi là Siêu hình học, môn học đã lỗi thời trong tư tưởng con người, và chỉ còn giá trị chuyển tiếp sang một giai đoạn khác...

    Xem tiếp >>
  • QUY LUẬT VỀ BA THỜI ĐẠI (A. COMTE, 1830)

    Khi nghiên cứu sự phát triển toàn diện của trí tuệ con người trong mọi lĩnh vực hoạt động khác nhau, từ những bước chập chững đơn giản nhất cho đến ngày nay, tôi nghĩ mình đã phát hiện ra một quy luật cơ bản...

    Xem tiếp >>
  • «SỬ HỌC ĐƯỢC THỰC HIỆN VỚI TÀI LIỆU» (C.-V. LANGLOIS & C. SEIGNOBOS, 1898)

    Chuyên luận Dẫn Vào Nghiên Cứu Sử Học (Introduction aux Études historiques, 1898) của Charles-Victor Langlois và Charles Seignobos là quyển sách gối đầu giường của nhiều thế hệ sử gia Pháp, và sự kiện nó còn được tái bản gần 100 năm sau chứng nhận giá trị lâu dài của tác phẩm này....

    Xem tiếp >>
  • VIỆC SĂN TÌM, XÂY DỰNG SỬ LIỆU (H. I. MARROU, 1954)

    «Sử học được thực hiện với tài liệu (...) không có sử liệu thì sử học cũng không có». Dù cực kỳ đúng đắn, phát biểu nổi tiếng trên của Charles-Victor Langlois và Charles Seignobos vẫn có thể khiến cho một sử gia tập sự suy tưởng, vội vã và sai lầm...

    Xem tiếp >>
  • SỰ KIỆN LỊCH SỬ (C.-V. LANGLOIS & C. SEIGNOBOS, 1898)

    Sự kiện lịch sử biểu hiện những hiện tượng có bản chất rất khác nhau. Từ cùng một tài liệu, người ta có thể rút ra đủ thứ sự kiện, về văn bản, ngôn ngữ, bút pháp, về các sự kiện khác, tục lệ, biến cố…

    Xem tiếp >>
  • BIẾN CỐ VÀ THIẾT CHẾ (P. LACOMBE, 1894)

    Paul Lacombe và Về Lịch Sử Xem Như Khoa Học (De l'Histoire considérée comme science, xuất bản năm 1894) thuộc vào thời giao thoa – cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX – giữa một khoa sử học đang gặp khủng hoảng trầm trọng và một môn xã hội học...

    Xem tiếp >>
  • VĂN HÓA (E. SAPIR, 1924)

    Văn hóa là một thuật từ căn bản, nhưng không dễ định nghĩa, trong các khoa học nhân văn và khoa học xã hội. Căn bản vì nó được dùng trong mọi ngành học thuật, khó định nghĩa không những vì tự nó đã bao gồm nhiều cách hiểu...

    Xem tiếp >>
  • VĂN HÓA (B. MALINOWSKI, 1927)

    Hành vi điển hình – đặc trưng của trạng thái văn minh – khác biệt cơ bản với hành vi của động vật ở trạng thái tự nhiên. Dù văn hóa của hắn đơn giản đến đâu, con người luôn luôn có một bộ dụng cụ...

    Xem tiếp >>
  • VĂN HÓA (R. LINTON, 1945)

    Trong các nghiên cứu khoa học, thuật từ văn hóa không bao hàm một sự nhấn mạnh về ý tưởng giá trị thường đi đôi với nó trong sử dụng thông tục. Văn hóa đề cập đến mọi phương cách sống của một xã hội, chứ không chỉ giới hạn vào những phong thái mà xã hội cho là cao sang hơn, đáng mong muốn hơn...

    Xem tiếp >>
  • XÃ HỘI HỌC, NHÂN HỌC, DÂN TỘC HỌC (C. LÉVI-STRAUSS, 1958)

    Tuy nhiên, vẫn đúng là khoa xã hội học gắn liền với người quan sát, trong mọi trường hợp. Ở thí dụ cuối cùng của chúng ta, rõ ràng là các chuyên ngành của xã hội học về đô thị, nông thôn, tôn giáo, nghề nghiệp, v. v…

    Xem tiếp >>
  • 3 PHỐI CẢNH XÃ HỘI HỌC (L. MOONEY, D. KNOX, C. SCHACHT, 2007)

    Các lý thuyết trong xã hội học cung cấp cho chúng ta nhiều phối cảnh khác nhau để quan sát thế giới xã hội chung quanh. Một phối cảnh chỉ đơn giản là một quan điểm, hay một cách nhìn vào thế giới...

    Xem tiếp >>
  • XÃ HỘI HỌC, KHOA HỌC VỀ CÁC THIẾT CHẾ (P. FAUCONNET & M. MAUSS, 1900)

    Mọi cá nhân đều tìm thấy [những thói quen tập thể về ngôn ngữ, phong tục, cuộc sống gia đình, đời sống kinh tế, v. v…] trong điều kiện hoàn toàn hình thành và như thể đã được thiết định sẵn, bởi vì anh ta không hề làm ra chúng mà chỉ tiếp nhận từ bên ngoài...

    Xem tiếp >>
  • XÃ HỘI KHÁC VỚI TỔNG SỐ CÁ NHÂN THÀNH VIÊN (E. DURKHEIM, 1901)

    Nhưng bởi vì xã hội được cấu thành từ những cá nhân, đối với thông kiến, dường như đời sống xã hội không thể có nền móng nào khác ngoài ý thức cá nhân[2], bằng không có vẻ như nó sẽ lơ lửng trong không khí và bay lượn trong khoảng trống...

    Xem tiếp >>
  • CÁC SỰ KIỆN XÃ HỘI PHẢI ĐƯỢC XỬ LÝ NHƯ SỰ VẬT” (E. DURKHEIM, 1894, 1901)

    Émile Durkheim (1858-1917) là nhà xã hội học lớn nhất của Pháp trong khoảng cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX. Trong ý chí xây dựng xã hội học như một khoa học đặc thù (sui generis), ông trở thành đại biểu của khuynh hướng duy xã hội về mặt phương pháp (sociologisme)...

    Xem tiếp >>
  • SỰ KIỆN XÃ HỘI, SỰ KIỆN TÂM LÝ (E. DURKHEIM, 1901)

    Một giải thích thuần túy tâm lý về các sự kiện xã hội không thể tránh làm thất thoát tất cả những gì là đặc trưng của chúng, nghĩa là tính chất xã hội[i]. Điều đã che mắt từng ấy nhà xã hội học về sự bất cập của phương pháp này là bởi họ thường gán cho các hiện tượng xã hội một số trạng thái tâm lý tương đối xác định và đặc biệt như điều kiện quyết định...

    Xem tiếp >>
  • XÃ HỘI KHÔNG PHÂN TÁN THÀNH NHỮNG CÁ NHÂN (A. COMTE, 1851)

    Theo truyền thống học thuật, Auguste Comte là cha đẻ của khoa xã hội học, vì ông là người đã đặt ra từ «sociologie» để chỉ môn học này (mà trước năm 1839 ông còn gọi là «physique sociale» = vật lý học xã hội), đồng thời là một trong những lý thuyết gia đầu tiên của nó.

    Xem tiếp >>
  • «CÁM DỖ XEM KHÁM PHÁ XƯA NHƯ ĐÓNG GÓP CHO KHOA HỌC HIỆN ĐẠI» (A. CROMBIE, 1952)

    Do đó, những vấn đề chính đối với giới sử gia khoa học là: con người đã đặt ra loại câu hỏi nào, vào thời điểm cụ thể nào, về thế giới tự nhiên?...

    Xem tiếp >>