Sổ tay giáo dục
  • LÀM THẾ NÀO ĐỂ TRỞ THÀNH TRIẾT GIA? NGHỆ THUẬT PHỎNG ĐỊNH HỢP LÝ (1942)

    Trong thời gian sống và dạy học, diễn thuyết tại Hoa Kỳ (1938-1944), Bertrand Russell đã cho xuất bản, năm 1942, ba tiểu luận trong tủ sách «Làm Thế Nào Để…» («How To Series») của nhà xuất bản Haldeman-Julius, với tựa đề là...

    Xem tiếp >>
  • NỀN TẢNG CỦA GIÁ TRỊ

    Định nghĩa về «sùng tín» mà Euthyphrôn đưa ra trong trích đoạn dưới đây dẫn tới một khúc mắc triết học, dưới hình thức một câu hỏi vặn có vẻ vô cùng lẩm cẩm của Sôkratês : «Điều sùng kính được chư thần yêu thích bởi vì nó là sùng kính, hoặc giả nó là sùng kính bởi vì nó được chư thần yêu chuộng?»...

    Xem tiếp >>
  • ĐỊNH NGHĨA THAO TÁC (Ullmo)

    Nói rằng Khoa học mang tính định lượng, rằng phương tiện của nó là sự đo lường, đã trở thành chuyện thông thường. Thế nhưng điều cũng thường xảy ra cho sự thông thường, là chính nó lại thường bao bọc và che giấu, cùng một lúc, cái sự thật sâu sắc mà chúng ta cần đưa ra ánh sáng trước tiên...

    Xem tiếp >>
  • Sôkratês (Schlick)

    Tên của trường phái Wien được gắn liền với chủ nghĩa thực chứng lô-gic (logical positivism) hay chủ nghĩa kinh nghiệm lô-gic (logical empiricism) và giấc mơ một khoa học thống nhất (unified science)...

    Xem tiếp >>
  • Cái phổ quát và cái quy phạm

    Trong trích đoạn dưới đây, dù không cầu viện đến ý nghĩa có tính đánh giá của từ «văn hóa», nhà dân tộc học Pháp Lévi-Strauss đã chỉ ra rằng văn hóa là đặc trưng của con người, bởi vì nền tảng của nó là một khả năng khách quan nhưng chỉ có nơi con người: khả năng đặt ra những quy phạm.

    Xem tiếp >>
  • BIẾN CỐ VÀ THIẾT CHẾ (1894)

    Paul Lacombe và Về Lịch Sử Xem Như Khoa Học (De l'Histoire considérée comme science, xuất bản năm 1894) thuộc vào thời giao thoa – cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX – giữa một khoa sử học đang gặp khủng hoảng trầm trọng và một môn xã hội học vừa xuất hiện với không ít hứa hẹn tại Pháp...

    Xem tiếp >>
  • XÃ HỘI HỌC, KHOA HỌC VỀ CÁC THIẾT CHẾ (1900)

    Mọi cá nhân đều tìm thấy [những thói quen tập thể về ngôn ngữ, phong tục, cuộc sống gia đình, đời sống kinh tế, v. v…] trong điều kiện hoàn toàn hình thành và như thể đã được thiết định sẵn, bởi vì anh ta không hề làm ra chúng mà chỉ tiếp nhận từ bên ngoài, điều có nghĩa rõ ràng là chúng đã được thiết lập từ trước. (...)

    Xem tiếp >>
  • DÂN TỘC HỌC NHƯ MỘT CHỦ NGHĨA NHÂN BẢN MỚI (1953)

    Ở Phương Tây, bên cạnh xu hướng cho rằng sự phân chia dân tộc học thành một số khu vực cụ thể – tuy vẫn giữ liên hệ với các bộ môn khoa học xã hội khác và xã hội học nói chung – là một yêu cầu thời thế thiết yếu, thì một xu hướng khác lại muốn nhìn thấy dân tộc học như một hình thức mới của chủ nghĩa nhân bản, với khác biệt duy nhất là nó chỉ tập trung trên các nhóm văn hóa xa lạ với nền văn minh cơ giới của họ. Trong chừng mức mà các nước Âu Mỹ...

    Xem tiếp >>
  • BA THẦN TƯỢNG CỦA BỘ LẠC SỬ GIA (1903)

    Như mọi suy tư đã tạo ra các cuộc cách mạng về nhận thức khoa học, trường phái Annales và cái dự án sáng tạo mà nó đề xuất đã không xuất hiện từ hư vô, chứng cớ là ​​văn bản chuẩn bị cho những đổi mới của Tạp chí Annales này, đến từ François Simiand (1873-1935)...

    Xem tiếp >>
  • BỐN THẦN TƯỢNG CẢN TRỞ TRI THỨC KHÁCH QUAN (1620)

    Có bốn loại Thần Tượng vây hãm trí tuệ con người. Để phân biệt rõ ràng, chúng tôi đã đặt cho chúng bốn tên khác nhau, gọi loại thứ nhất là Thần Tượng Bộ Lạc, loại thứ hai là Thần Tượng Hang Động, loại thứ ba Thần Tượng Hội Chợ, và loại thứ tư là Thần Tượng Rạp Tuồng...

    Xem tiếp >>
  • QUAN HỆ NHÂN QUẢ

    Cách tiếp cận của nhà lôgic học Rudolf Carnap nằm trong dòng phê phán quan hệ nhân quả của David Hume. Thực vậy, đối với Hume, không có quan hệ thiết yếu giữa cái mà ta gọi là «nhân» với cái mà ta chỉ định là «quả». Từ sự kiện ổ bánh mì tôi ăn ngày hôm qua đã nuôi dưỡng tôi, không tất yếu sự kiện tiếp theo phải là ổ bánh mì tôi ăn ngày mai cũng sẽ nuôi dưỡng tôi y như vậy...

    Xem tiếp >>
  • DẪN VÀO XÃ HỘI HỌC VỀ XÃ HỘI HỌC (1971)

    Xã hội học về xã hội học (Sociology of Sociology) là tên gọi một chuyên ngành của xã hội học, tương tự như xã hội học về tôn giáo, xã hội học về tri thức, v. v…  

    Xem tiếp >>
  • TUYÊN NGÔN SỬ HỌC CỦA TẠP CHÍ LỊCH SỬ (REVUE HISTORIQUE*, PHÁP, 1876)

    Cuộc chiến tranh Pháp - Phổ năm 1870-1871 chấm dứt với chiến bại của Pháp. Trong cơn sốc và sốt nhục, giới tinh hoa Pháp sôi nổi tìm nguyên do. Các chuyên gia săn phù thủy thấy ngay thủ phạm: có quá nhiều sĩ quan Do Thái trong quân đội Pháp...

    Xem tiếp >>
  • PHỤ LỤC IV: TÁC PHẨM KHOA HỌC, TRIẾT HỌC, VĂN HỌC

    Almagestum là tên La-tinh của bản dịch tiếng Ả Rập năm 813 (Al-Mijisti, do từ Hy Lạp μεγίστη = megistê, có nghĩa là cái vĩ đại, cái vĩ đại nhất), từ một trước tác có tên gốc là Mathêmatikê Syntaxis (Μαθηματικὴ Σύνταξις) của nhà thiên văn học Hy Lạp Klaudios Ptolemaios* (100-170). Do uy tín của bản dịch tiếng La-tinh trong thế kỷ thứ XII, tên Almagestum (Almagest, Almageste) được lưu giữ và phổ biến cho đến khi các bản sao chép từ bản gốc bằng tiếng Hy Lạp hiện về vào thế kỷ thứ XV...

    Xem tiếp >>
  • ĐỊNH NGHĨA BẢN CHẤT

    Đây là một trích đoạn được rút ra từ Euthyphrôn, một cuộc đối thoại giả tưởng được Platôn dựng lên vào khoảng năm 396-395 tCn, nghĩa là sau phiên xử Sôkratês (399 tCn), có thể sau cả Sôkratês Tự Biện Vu...

    Xem tiếp >>
  • Gérard xứ Cremona tại Trường dịch thuật Toledo

    Vì lòng yêu chuộng quyển Almagest [của Klaudios Ptolemaios], thứ tình cảm mà ông không nhận thấy ở người La-tinh, Gerard xứ Cremona tìm đến Toledo. Nhìn thấy sự phong phú của bao sách vở viết bằng tiếng Ả Rập trong mỗi môn học, và đau xót vì sự khan hiếm sách học – mà ông biết rõ tới mức độ nào – ở người La-tinh, ông cảm thấy bị thôi thúc phải làm công việc phiên dịch, và quyết học tiếng Ả Rập...

    Xem tiếp >>
  • FRANCIS BACON (1561-1626): SỰ BÁO HIỆU PHƯƠNG PHÁP MỚI

    Francis Bacon không phải là nhà hiện đại, trừ phi theo nghĩa rộng sau: ông là người chống lại chủ nghĩa kinh viện*. Bacon là người của thời Phục Hưng, với sự phấn khởi đầy nhiệt tình, óc tưởng tượng xum xuê, song tinh thần phê phán lại yếu kém – những đặc điểm tổng quát đã để lại dấu ấn trên não trạng của thời đại này, vốn còn bị bao bọc trong không khí ma thuật và sự nhẹ dạ trước cái huyền diệu...

    Xem tiếp >>
  • PHỤ LỤC II: BIẾN CỐ, ĐỊA DANH, THIẾT CHẾ

    Alsace (Elsass) và Lorraine (Lothringen) là 2 vùng đất nằm giữa sông Meuse (Maas) và sông Rhin (Rhine), trước kia thuộc về Thánh Đế Chế Roma Dân Tộc Đức (Saint Empire romain germanique = Heiliges Römisches Reich Deutscher Nationen, 962-1806), nhưng do tình trạng bị phân tán nên, đã bị Vương quốc Pháp lấy cớ sông Rhin là biên giới tự nhiên mà sáp nhập, giữa thế kỷ thứ XVI và XVIII, vào lãnh thổ của mình.

    Xem tiếp >>
  • PHỤ LỤC V: NHÂN VẬT LỊCH SỬ VÀ HƯ CẤU

    Tốt nghiệp Trường Bách Khoa (1857), Louis André tiếp tục học quân sự tại Trường Pháo Binh và Công Binh ở Metz cho đến năm 1861. Với hàm Thiếu tướng, ông được bổ nhiệm Hiệu trưởng Trường Bách Khoa (1893), sau lại được Trung tướng Auguste Mercier điều động về chỉ huy quân đoàn đồn trú ở Le Mans (1897-1899), rồi sau khi lên cấp Trung tướng năm 1899, được Pierre Waldeck-Rousseau chọn làm Bộ trưởng Bộ Chiến tranh năm 1900.

    Xem tiếp >>
  • Học thức & Trí thức (I) : Từ vụ án Alfred Dreyfus đến phiên xử Émile Zola

    Bàn về sự xuất hiện của khái niệm «trí thức» trong bối cảnh lịch sử của nó (sau chiến bại của Pháp trong cuộc chiến tranh Pháp-Phổ 1870-1871) đòi hỏi một bài viết khá dài, bao gồm vừa sự tường thuật những diễn biến quan trọng trong gần 14 năm (trải qua 4 đời Tổng thống[1] và 13 đời Thủ tướng[2] của nền Đệ III Cộng hòa Pháp), vừa sự trình bày một cuộc tranh luận lý thuyết, vừa sự giới thiệu các nhân vật mấu chốt trong một giai đoạn lịch sử của nước Pháp...

    Xem tiếp >>
  • Học thức & Trí thức (II) : Lịch sử một trận phân thân

    Bàn về sự xuất hiện của khái niệm «trí thức» trong bối cảnh lịch sử của nó (sau chiến bại của Pháp trong cuộc chiến tranh Pháp-Phổ 1870-1871) đòi hỏi một bài viết khá dài, bao gồm vừa sự tường thuật những diễn biến quan trọng trong hơn 10 năm, vừa sự trình bày một cuộc tranh luận lý thuyết, vừa sự giới thiệu các nhân vật mấu chốt trong một giai đoạn lịch sử của nước Pháp...

    Xem tiếp >>
  • XÃ HỘI HỌC, DÂN TỘC HỌC hay NHÂN HỌC

    Tuy nhiên, vẫn đúng là khoa xã hội học gắn liền với người quan sát, trong mọi trường hợp. Ở thí dụ cuối cùng của chúng ta, rõ ràng là các chuyên ngành của xã hội học về đô thị, nông thôn, tôn giáo, nghề nghiệp, v. v… đều lấy xã hội của người quan sát hay một xã hội cùng loại hình làm đối tượng. Nhưng trong trường hợp của xã hội học tổng hợp hay xã hội học có xu hướng triết học, thái độ này cũng đúng không kém. Ở đây, nhà khoa học có thể mở rộng cuộc điều tra của mình đến những không gian kinh nghiệm lớn hơn của con người, thậm chí ông ta còn có thể nhắm tới việc diễn giải toàn bộ cái kinh nghiệm con người ấy...

    Xem tiếp >>
  • CÁI PHỔ QUÁT

    Trong cuộc tranh cãi về khái niệm phổ quát đã kéo dài suốt nhiều thế kỷ nay, thái độ của các nhà tư tưởng khác nhau có thể được xếp, đại loại, vào các quan điểm sau: phái hiện thực, với hai phiên bản cực đoan và ôn hòa; phái duy danh, cũng dưới hai hình thức cực đoan hay ôn hòa. Quan điểm hiện thực cực đoan, hay hiện thực kiểu Platôn, công nhận sự tồn tại của cái phổ quát bên ngoài những vật thể nhìn thấy được, nói cách khác, là bên cạnh những cá thể mà giác quan ta có thể cảm nhận được, nó còn công nhận thêm những cái phổ quát nữa. Từ quan điểm này, ta có thể nói rằng cái phổ quát «con người nói chung

    Xem tiếp >>
  • THÓI TỰ CHIÊM NGƯỠNG CỦA CON NGƯỜI TRƯỚC KHOA HỌC

    Lịch sử khoa học có thể được trình bày như một chuỗi những cuộc điều chỉnh về hình ảnh mà con người đã tự tạo ra, về thế giới và về bản thân mình. Ở đây, Sigmund Freud giải thích những phản kháng mà con người từng đưa ra nhằm chống lại một số khám phá khoa học, bằng thứ cảm thức nhục nhã mà hắn đã cảm thấy khi bị khoa học giáng vào thói tự chiêm ngưỡng của mình những chùy phủ định. Trong chiều hướng này, phân tâm học là chùy cuối cùng và nghiêm trọng nhất trong số những cảm thức nhục nhã đó.

    Xem tiếp >>
  • 4 ĐỐI TƯỢNG CỦA LỊCH SỬ KHOA HỌC 1750

    Lịch sử tổng quát và luận chứng của khoa học và kỹ thuật bao gồm bốn đối tượng sau: những hiểu biết, những ý kiến, những tranh luận, và những sai lầm của chúng ta. Như lịch sử của những hiểu biết, lịch sử khoa học cho ta thấy sự phong phú, đúng hơn nữa, sự nghèo nàn thực sự của chúng ta. Một mặt, nó hạ nhục con người bằng cách trỏ vào sự ít ỏi của những hiểu biết mà hắn có; mặt khác, nó khuyến khích và nâng cao, hay ít ra là an ủi con người, bằng cách triển khai những ứng dụng đa tạp mà hắn đã có thể thực hiện từ một lượng nhỏ các ý niệm rõ ràng và chắc chắn.

    Xem tiếp >>
  • SÔKRATÊS & PLATÔN TỪ ĐỊNH NGHĨA PHỔ QUÁT ĐẾN Ý THỂ

    Về Ý thể , trước hết chúng ta phải xem xét ngay chính học thuyết này, không phải trong tương quan với bản chất đặc thù của những con số, mà dưới cái hình thức qua đó nó đã được nhận thức bởi các triết gia đầu tiên tin rằng những Ý thể tồn tại...

    Xem tiếp >>
  • Dụ ngôn của Saint-Simon (1819)

    Thử giả định rằng nước Pháp đột nhiên mất đi năm mươi nhà vật lý học, năm mươi nhà hóa học, năm mươi nhà sinh lý học, năm mươi nhà toán học, năm mươi nhà điêu khắc, năm mươi nhà văn, năm mươi thi sĩ, năm mươi họa sĩ, năm mươi nhạc sĩ… hàng đầu của mình...

    Xem tiếp >>
  • GIẢ THUYẾT VÔ THỨC (1915)

    Từ mọi phía, người ta tranh cãi cái quyền thừa nhận vô thức như một tập hợp tâm lý đặc thù và làm việc một cách khoa học[1] với giả thuyết này của chúng tôi. Chúng tôi chỉ có thể trả lời rằng giả thuyết vô thức là thiết yếu và chính đáng, rằng chúng tôi có rất nhiều bằng cớ về sự tồn tại của nó. [Giả thuyết] vô thức là thiết yếu, bởi vì những dữ kiện về ý thức còn vô cùng thiếu sót...

    Xem tiếp >>
  • Sokratês (Karl Popper)

    Trở lại với ý nghĩa chính trị của vụ án Sôkratês , một mặt, Popper đối lập «loại xã hội ma thuật, hay bộ lạc, hay tập thể cũng được gọi là xã hội khép, với loại xã hội trong đó mỗi cá nhân phải đương đầu với những quyết định cá biệt là xã hội mở»; mặt khác, ông nhận diện chủ nghĩa toàn trị như «là đạo lý của loại xã hội khép...

    Xem tiếp >>
  • ĐỒNG CẢM

    Từ tương đương với đồng cảm là empathy (Anh) hay empathie (Pháp). Dù xuất phát từ empatheia của Hy Lạp cổ đại (với nghĩa khác là đam mê, nhiệt tình), hay chỉ mới được nhà tâm lý học Anh-Mỹ G. G. Titchener (1867-1927) dịch từ Einfühlung của Đức trong khoảng thế kỷ XIX-XX, empathy chỉ sự hiểu biết người khác thông qua cảm thông nhờ cùng chia sẻ những tình cảm chung của con người, hay phương thức tìm hiểu kẻ khác bằng cách tự đặt mình vào chỗ của họ. Ngày nay, đồng cảm là khái niệm nền tảng của nhiều triết phái, cũng như của hầu hết các bộ môn khoa học nhân văn và xã hội.

    Xem tiếp >>