Sổ tay giáo dục
  • Văn hóa (Edward Sapir)

    Từ «văn hóa» có ba nghĩa hay bao gồm ba nhóm ý nghĩa. Đầu tiên, nó được các nhà nhân học hay sử học sử dụng trong một nghĩa chuyên môn nhằm tập hợp mọi yếu tố, vật chất hoặc tinh thần, của cuộc sống con người, do xã hội trao truyền...

    Xem tiếp >>
  • HÊRODOTOS, SỬ GIA CHUYÊN NGHIỆP ĐẦU TIÊN (1961)

    Nhìn từ quan điểm lịch sử, hiển nhiên là sử học đã tồn tại trước Hêrodotos, trước các văn thi sĩ, thậm chí trước cả Hêsiodos và Hômeros: có thể nào ta tưởng tượng được rằng, đã từng có, ở đâu đó, những con người không hề nghĩ ngợi, và không bao giờ kể lại, một cách nào đấy, những gì từng xảy ra cho họ...

    Xem tiếp >>
  • SỰ KIỆN LỊCH SỬ (1898)

    Sự kiện lịch sử biểu hiện những hiện tượng có bản chất rất khác nhau. Từ cùng một tài liệu, người ta có thể rút ra đủ thứ sự kiện, về văn bản, ngôn ngữ, bút pháp, về các sự kiện khác, tục lệ, biến cố…

    Xem tiếp >>
  • XÃ HỘI KHÔNG PHÂN TÁN THÀNH NHỮNG CÁ NHÂN

    Theo truyền thống học thuật, Auguste Comte là cha đẻ của khoa xã hội học, vì ông là người đã đặt ra từ «sociologie» để chỉ môn học này (mà trước năm 1839 ông còn gọi là «physique sociale» = vật lý học xã hội), đồng thời là một trong những lý thuyết gia đầu tiên của nó.

    Xem tiếp >>
  • SỰ “PHÁT MINH” RA TÀI LIỆU (1954)

    «Sử học được thực hiện với tài liệu (...) không có sử liệu thì sử học cũng không có». Dù cực kỳ đúng đắn, phát biểu nổi tiếng trên của Charles-Victor Langlois và Charles Seignobos vẫn có thể khiến cho một sử gia tập sự suy tưởng, vội vã và sai lầm, rằng tài liệu là một thứ mì ăn liền...

    Xem tiếp >>
  • SỰ SĂN TÌM TÀI LIỆU (1898)

    Dẫn Vào Nghiên Cứu Sử Học (Introduction aux Études historiques, 1898) của Langlois và Seignobos là quyển sách gối đầu giường của nhiều thế hệ sử gia Pháp, và sự kiện nó còn được tái bản gần 100 năm sau chứng nhận giá trị lâu dài của tác phẩm này...

    Xem tiếp >>
  • KANDAULÊS, NYSSIA VÀ GYGÊS

    Hêrodotos được xem là sử gia đầu tiên, ít ra ở phương Tây. Và huyền thoại được ông kể lại ở đây nhằm «giải thích» trước hết một biến cố trong huyền sử xứ Lydia. Do đó, nó có thể rất khác với huyền thoại Chiếc Nhẫn Của Gygês...

    Xem tiếp >>
  • CHIẾC NHẪN CỦA GYGÊS

    Platôn chống đối quyết liệt phần thần thoại Hy Lạp như đã được Homêros và Hêsiodos tạo dựng, điều đó không có nghĩa là ông từ chối sử dụng huyền thoại như một công cụ tư duy...

    Xem tiếp >>
  • HUYỀN THOẠI VÀ DỐI TRÁ

    Đoạn văn được trích dịch từ quyển Cộng Hòa (The Republic) dưới đây cho thấy mối quan hệ khá phức tạp giữa Platôn với thần thoại Hy Lạp, và từ đó, với huyền thoại nói chung...

    Xem tiếp >>
  • LÀM THẾ NÀO ĐỂ TRỞ THÀNH TRIẾT GIA? NGHỆ THUẬT PHỎNG ĐỊNH HỢP LÝ (1942)

    Trong thời gian sống và dạy học, diễn thuyết tại Hoa Kỳ (1938-1944), Bertrand Russell đã cho xuất bản, năm 1942, ba tiểu luận trong tủ sách «Làm Thế Nào Để…» («How To Series») của nhà xuất bản Haldeman-Julius, với tựa đề là...

    Xem tiếp >>
  • CHÍNH TRỊ VÀ TRIẾT HỌC Ở PLATÔN

    Introduction à la lecture de Platon (Dẫn Vào Thú Đọc Platôn) et Entretiens sur Descartes (Nói Chuyện Về Descartes) của Alexandre Koyré* là một quyển sách kép về hai triết gia được nghiên cứu. Riêng quyển về Platôn đã được Leonora Cohen Rosenfield dịch sang tiếng Anh dưới tựa đề là Discovering Plato (Khám Phá Platôn)....

    Xem tiếp >>
  • NỀN TẢNG CỦA GIÁ TRỊ

    Định nghĩa về «sùng tín» mà Euthyphrôn đưa ra trong trích đoạn dưới đây dẫn tới một khúc mắc triết học, dưới hình thức một câu hỏi vặn có vẻ vô cùng lẩm cẩm của Sôkratês : «Điều sùng kính được chư thần yêu thích bởi vì nó là sùng kính, hoặc giả nó là sùng kính bởi vì nó được chư thần yêu chuộng?»...

    Xem tiếp >>
  • ĐỊNH NGHĨA THAO TÁC (Ullmo)

    Nói rằng Khoa học mang tính định lượng, rằng phương tiện của nó là sự đo lường, đã trở thành chuyện thông thường. Thế nhưng điều cũng thường xảy ra cho sự thông thường, là chính nó lại thường bao bọc và che giấu, cùng một lúc, cái sự thật sâu sắc mà chúng ta cần đưa ra ánh sáng trước tiên...

    Xem tiếp >>
  • Sôkratês (Schlick)

    Tên của trường phái Wien được gắn liền với chủ nghĩa thực chứng lô-gic (logical positivism) hay chủ nghĩa kinh nghiệm lô-gic (logical empiricism) và giấc mơ một khoa học thống nhất (unified science)...

    Xem tiếp >>
  • Tự nhiên và Văn hóa & Phổ quát và Quy phạm

    Trong trích đoạn dưới đây, dù không cầu viện đến ý nghĩa có tính đánh giá của từ «văn hóa», nhà dân tộc học Pháp Lévi-Strauss đã chỉ ra rằng văn hóa là đặc trưng của con người, bởi vì nền tảng của nó là một khả năng khách quan nhưng chỉ có nơi con người: khả năng đặt ra những quy phạm...

    Xem tiếp >>
  • BIẾN CỐ VÀ THIẾT CHẾ (1894)

    Paul Lacombe và Về Lịch Sử Xem Như Khoa Học (De l'Histoire considérée comme science, xuất bản năm 1894) thuộc vào thời giao thoa – cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX – giữa một khoa sử học đang gặp khủng hoảng trầm trọng và một môn xã hội học vừa xuất hiện với không ít hứa hẹn tại Pháp...

    Xem tiếp >>
  • XÃ HỘI HỌC, KHOA HỌC VỀ CÁC THIẾT CHẾ (1900)

    Mọi cá nhân đều tìm thấy [những thói quen tập thể về ngôn ngữ, phong tục, cuộc sống gia đình, đời sống kinh tế, v. v…] trong điều kiện hoàn toàn hình thành và như thể đã được thiết định sẵn, bởi vì anh ta không hề làm ra chúng mà chỉ tiếp nhận từ bên ngoài, điều có nghĩa rõ ràng là chúng đã được thiết lập từ trước. (...)

    Xem tiếp >>
  • DÂN TỘC HỌC NHƯ MỘT CHỦ NGHĨA NHÂN BẢN MỚI (1953)

    Ở Phương Tây, bên cạnh xu hướng cho rằng sự phân chia dân tộc học thành một số khu vực cụ thể – tuy vẫn giữ liên hệ với các bộ môn khoa học xã hội khác và xã hội học nói chung – là một yêu cầu thời thế thiết yếu, thì một xu hướng khác lại muốn nhìn thấy dân tộc học như một hình thức mới của chủ nghĩa nhân bản, với khác biệt duy nhất là nó chỉ tập trung trên các nhóm văn hóa xa lạ với nền văn minh cơ giới của họ. Trong chừng mức mà các nước Âu Mỹ...

    Xem tiếp >>
  • BA THẦN TƯỢNG CỦA BỘ LẠC SỬ GIA (1903)

    Như mọi suy tư đã tạo ra các cuộc cách mạng về nhận thức khoa học, trường phái Annales và cái dự án sáng tạo mà nó đề xuất đã không xuất hiện từ hư vô, chứng cớ là ​​văn bản chuẩn bị cho những đổi mới của Tạp chí Annales này, đến từ François Simiand (1873-1935)...

    Xem tiếp >>
  • BỐN THẦN TƯỢNG CẢN TRỞ TRI THỨC KHÁCH QUAN (1620)

    Có bốn loại Thần Tượng vây hãm trí tuệ con người. Để phân biệt rõ ràng, chúng tôi đã đặt cho chúng bốn tên khác nhau, gọi loại thứ nhất là Thần Tượng Bộ Lạc, loại thứ hai là Thần Tượng Hang Động, loại thứ ba Thần Tượng Hội Chợ, và loại thứ tư là Thần Tượng Rạp Tuồng...

    Xem tiếp >>
  • QUAN HỆ NHÂN QUẢ

    Cách tiếp cận của nhà lôgic học Rudolf Carnap nằm trong dòng phê phán quan hệ nhân quả của David Hume. Thực vậy, đối với Hume, không có quan hệ thiết yếu giữa cái mà ta gọi là «nhân» với cái mà ta chỉ định là «quả». Từ sự kiện ổ bánh mì tôi ăn ngày hôm qua đã nuôi dưỡng tôi, không tất yếu sự kiện tiếp theo phải là ổ bánh mì tôi ăn ngày mai cũng sẽ nuôi dưỡng tôi y như vậy...

    Xem tiếp >>
  • DẪN VÀO XÃ HỘI HỌC VỀ XÃ HỘI HỌC (1971)

    Xã hội học về xã hội học (Sociology of Sociology) là tên gọi một chuyên ngành của xã hội học, tương tự như xã hội học về tôn giáo, xã hội học về tri thức, v. v…  

    Xem tiếp >>
  • TUYÊN NGÔN SỬ HỌC CỦA TẠP CHÍ LỊCH SỬ (REVUE HISTORIQUE*, PHÁP, 1876)

    Cuộc chiến tranh Pháp - Phổ năm 1870-1871 chấm dứt với chiến bại của Pháp. Trong cơn sốc và sốt nhục, giới tinh hoa Pháp sôi nổi tìm nguyên do. Các chuyên gia săn phù thủy thấy ngay thủ phạm: có quá nhiều sĩ quan Do Thái trong quân đội Pháp...

    Xem tiếp >>
  • PHỤ LỤC IV: TÁC PHẨM KHOA HỌC, TRIẾT HỌC, VĂN HỌC

    Almagestum là tên La-tinh của bản dịch tiếng Ả Rập năm 813 (Al-Mijisti, do từ Hy Lạp μεγίστη = megistê, có nghĩa là cái vĩ đại, cái vĩ đại nhất), từ một trước tác có tên gốc là Mathêmatikê Syntaxis (Μαθηματικὴ Σύνταξις) của nhà thiên văn học Hy Lạp Klaudios Ptolemaios* (100-170). Do uy tín của bản dịch tiếng La-tinh trong thế kỷ thứ XII, tên Almagestum (Almagest, Almageste) được lưu giữ và phổ biến cho đến khi các bản sao chép từ bản gốc bằng tiếng Hy Lạp hiện về vào thế kỷ thứ XV...

    Xem tiếp >>
  • ĐỊNH NGHĨA BẢN CHẤT

    Đây là một trích đoạn được rút ra từ Euthyphrôn, một cuộc đối thoại giả tưởng được Platôn dựng lên vào khoảng năm 396-395 tCn, nghĩa là sau phiên xử Sôkratês (399 tCn), có thể sau cả Sôkratês Tự Biện Vu...

    Xem tiếp >>
  • Gérard xứ Cremona tại Trường dịch thuật Toledo

    Vì lòng yêu chuộng quyển Almagest [của Klaudios Ptolemaios], thứ tình cảm mà ông không nhận thấy ở người La-tinh, Gerard xứ Cremona tìm đến Toledo. Nhìn thấy sự phong phú của bao sách vở viết bằng tiếng Ả Rập trong mỗi môn học, và đau xót vì sự khan hiếm sách học – mà ông biết rõ tới mức độ nào – ở người La-tinh, ông cảm thấy bị thôi thúc phải làm công việc phiên dịch, và quyết học tiếng Ả Rập...

    Xem tiếp >>
  • FRANCIS BACON (1561-1626): SỰ BÁO HIỆU PHƯƠNG PHÁP MỚI

    Francis Bacon không phải là nhà hiện đại, trừ phi theo nghĩa rộng sau: ông là người chống lại chủ nghĩa kinh viện*. Bacon là người của thời Phục Hưng, với sự phấn khởi đầy nhiệt tình, óc tưởng tượng xum xuê, song tinh thần phê phán lại yếu kém – những đặc điểm tổng quát đã để lại dấu ấn trên não trạng của thời đại này, vốn còn bị bao bọc trong không khí ma thuật và sự nhẹ dạ trước cái huyền diệu...

    Xem tiếp >>
  • PHỤ LỤC II: BIẾN CỐ, ĐỊA DANH, THIẾT CHẾ

    Alsace (Elsass) và Lorraine (Lothringen) là 2 vùng đất nằm giữa sông Meuse (Maas) và sông Rhin (Rhine), trước kia thuộc về Thánh Đế Chế Roma Dân Tộc Đức (Saint Empire romain germanique = Heiliges Römisches Reich Deutscher Nationen, 962-1806), nhưng do tình trạng bị phân tán nên, đã bị Vương quốc Pháp lấy cớ sông Rhin là biên giới tự nhiên mà sáp nhập, giữa thế kỷ thứ XVI và XVIII, vào lãnh thổ của mình.

    Xem tiếp >>
  • PHỤ LỤC V: NHÂN VẬT LỊCH SỬ VÀ HƯ CẤU

    Tốt nghiệp Trường Bách Khoa (1857), Louis André tiếp tục học quân sự tại Trường Pháo Binh và Công Binh ở Metz cho đến năm 1861. Với hàm Thiếu tướng, ông được bổ nhiệm Hiệu trưởng Trường Bách Khoa (1893), sau lại được Trung tướng Auguste Mercier điều động về chỉ huy quân đoàn đồn trú ở Le Mans (1897-1899), rồi sau khi lên cấp Trung tướng năm 1899, được Pierre Waldeck-Rousseau chọn làm Bộ trưởng Bộ Chiến tranh năm 1900.

    Xem tiếp >>
  • Học thức & Trí thức (I) : Từ vụ án Alfred Dreyfus đến phiên xử Émile Zola

    Bàn về sự xuất hiện của khái niệm «trí thức» trong bối cảnh lịch sử của nó (sau chiến bại của Pháp trong cuộc chiến tranh Pháp-Phổ 1870-1871) đòi hỏi một bài viết khá dài, bao gồm vừa sự tường thuật những diễn biến quan trọng trong gần 14 năm (trải qua 4 đời Tổng thống[1] và 13 đời Thủ tướng[2] của nền Đệ III Cộng hòa Pháp), vừa sự trình bày một cuộc tranh luận lý thuyết, vừa sự giới thiệu các nhân vật mấu chốt trong một giai đoạn lịch sử của nước Pháp...

    Xem tiếp >>