Hội đồng Cố vấn Khoa học (Scientific Advisory Board)

(Được sắp xếp theo thứ tự alphabet)

 

GS.TS. David Ericson
Giáo sư Triết học Giáo dục và Nghiên cứu về Chính sách Giáo dục của Đại học Hawaii (Hoa Kỳ)

David P. Ericson là Giáo sư Triết học Giáo dục và Nghiên cứu Chính sách Giáo dục của Khoa Nền tảng Giáo dục (Department of Educational Foundations) thuộc trường Giáo dục, Đại học Hawaii (Hoa Kỳ). Ông từng là giáo sư của Đại học California, Los Angeles / UCLA (1979-1992) và Đại học Virginia Tech (1977 - 1979) trước khi chính thức công tác tại Đại học Hawaii năm 1992.

Tại trường Giáo dục thuộc Đại học Hawaii, Ông vừa là Chủ nhiệm Khoa của cả hai Khoa là Khoa Nền tảng Giáo dục và Khoa Chương trình Giảng dạy, vừa là Phó Hiệu trưởng phụ trách về Nghiên Cứu và Đào tạo Sau Đại Học, đồng thời Ông cũng giữ vai trò Giám đốc Văn phòng Giáo dục Quốc tế. Ông cũng từng là tổng biên tập của tạp chí Nghiên cứu về Triết học và Giáo dục (Studies in Philosophy and Education) trong suốt 5 năm.

Với niềm đam mê nghiên cứu học thuật về triết học giáo dục, phân tích chính sách giáo dục, giáo dục so sánh và quốc tế, Ông đã cho công bố rộng rãi các kết quả nghiên cứu về giáo dục, lý luận về phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội, các vấn đề chính sách và cải cách giáo dục ở Mỹ và châu Á. Ông được biết đến với những hoạt động nổi trội về cơ cấu và đặc điểm của các hệ thống giáo dục quốc gia ở Mỹ và châu Á. Ông được trao Giải thưởng Chuyên gia cao cấp Fulbright  (2007 - 2012), một giải thưởng giúp ông thực hiện những nghiên cứu về các vấn đề cải cách giáo dục cho giáo dục bậc phổ thông và bậc đại học tại Đan Mạch và Trung Quốc.

 

GS.TS. Gerald W. Fry
Đại học Minnesota (Hoa Kỳ)

Giáo sư Gerald W. Fry là Giáo sư Quốc tế Ưu tú (Distinguished International Professor) thuộc Khoa giáo dục Quốc tế và Liên văn hóa của Đại học Minnesota (Hoa Kỳ). Giáo sư Fry từng là Giám đốc Khoa Nghiên cứu Quốc tế và Trung tâm Nghiên cứu Châu Á - Thái Bình Dương tại Đại học Oregon (Hoa Kỳ). Lĩnh vực chuyên môn chính của Giáo sư là về giáo dục quốc tế và liên văn hóa.

Suốt 10 năm qua, GS đảm nhiệm vai trò lãnh đạo, dẫn dắt cho nhiều chương trình nghiên cứu nước ngoài của các đơn vị khác nhau như Trung tâm Đông-Tây, Đại học Stanford, Đại học Oregon, và Đại học Minnesota. Với chuyên môn nghiên cứu đa dạng của mình, trong hơn 5 thập niên qua GS Fry đã làm việc tại rất nhiều quốc gia ở Đông Nam Á mà đặc biệt nhất là ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Việt Nam.

Ông có rất nhiều ấn  phẩm được xuất bản, trong đó gồm “Xa hơn tác động nhất thời: Du học cho tham gia toàn cầu” / “Beyond Immediate Impact: Study Abroad for Global Engagement” (SAGE, 2010), “Hiệp hội các nghiên cứu về Đông Nam Á” / “The Association of Southeast Asian Studies” (2008), “Bách khoa toàn thư những quan điểm toàn cầu về Hoa Kỳ” / “Encyclopedia of Global Perspectives on the United States” (2007), “Bách khoa toàn thư về Châu Á hiện đại” / “The Encyclopedia of Modern Asia” (2002), “Nghiên cứu hợp tác quốc tế: Một phương pháp tiếp cận sáng tạo trong việc phục vụ liên văn hóa  / “International Cooperative Learning: An Innovative Approach to Intercultural Service” (2000), và “Từ điển Phát triển Quốc tế” / “The International Development Dictionary” (1991).

Ngoài ra, GS còn là thành viên Ban biên tập của nhiều tập san khoa học giáo dục quốc tế, trong đó có “Tập san Giáo dục Châu Á Thái Bình Dương” / “Asia Pacific Journal of Education”, “Tập san Hợp lực và Nghiên cứu giáo dục Châu Á” / “Asian Journal of Educational Research and Synergy”, “Nghiên cứu Giáo dục cho Chính sách và Thực hành” / “Educational Research for Policy and Practice”, “Tập san Nghiên cứu Giáo dục Quốc tế” / “Journal of Studies in International Education” và nhiều tập san khoa học giáo dục uy tín khác.

GS Fry có bằng Tiến sĩ về phát triển giáo dục quốc tế của Đại học Stanford, bằng Cao học Quản trị công của Đại học Princeton, và bằng Cử nhân kinh tế của trường Đại học Stanford.

 

TS. Alexandre Dormeier Freire
Nhà Nghiên cứu và Giảng viên Cao cấp của Học Viện Giáo Dục Sau Đại Học Geneva và Đại học Geneva (Thụy Sỹ)

Tiến sĩ Alexandre Dormeier Freire là nhà nghiên cứu cao cấp và là giảng viên cao cấp tại Học Viện Giáo Dục Sau Đại Học Geneva về Nghiên cứu về Phát triển Quốc tế / IHEID (Thụy Sỹ). Ông cũng là Giám đốc chương trình Thạc sĩ về các vấn đề Châu Á của IHEID, EPFL và Đại học Geneva, và đồng thời giữ vai trò Quản lý Học thuật của Chương trình Thạc sĩ quốc tế về Nghiên cứu phát triển của IHEID tại châu Á.

TS. Freire tốt nghiệp Tiến sĩ về Nghiên cứu phát triển tại Đại học Geneva. Là một nhà xã hội học giáo dục, Ông hoạt động chủ yếu trong các vấn đề cải cách giáo dục và chính sách giáo dục ở khu vực Đông Nam Á với sự chuyên sâu vào các nghiên cứu phát triển kỹ năng, bất bình đẳng xã hội, mối liên kết giữa lao động và giáo dục, vai trò của gia đình trong các lựa chọn về giáo dục, tác động toàn cầu lên hệ thống giáo dục.

Hiện Ông đang nghiên cứu về vai trò của gia đình đối với các lựa chọn về giáo dục và đào tạo, vấn đề bỏ học và hệ thống giáo dục không chính quy tại khu vực Đông Nam Á. Bên cạnh đó, Ông còn là thành viên và là cựu cộng tác viên khoa học của Nhóm hợp tác quốc tế về phát triển kỹ năng và cộng tác viên khoa học của tổ chức NORRAG (Mạng lưới Nghiên cứu, Đánh giá và Tư vấn Chính sách Giáo dục). 

 

GS.TS. Philip Hallinger
Giáo sư Trường Đại học Chulalongkorn (Thái Lan)

Giáo sư Philip Hallinger là một học giả nổi tiếng quốc tế về lãnh đạo và sự thay đổi, đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục lãnh đạo, quản lý và cải tiến trường học. Ông đã xuất bản hơn 200 bài báo khoa học đăng trên các tạp chí quốc tế và sách chuyên ngành, và hiện là đồng Tổng Biên tập Tạp chí Quản trị Giáo dục (Journal of Educational Administration). Năm 2014, Ông được Hiệp hội Nghiên cứu Giáo dục Mỹ (American Educational Research Association) trao giải thưởng Xuất sắc trong Nghiên cứu (Excellence in research Award) và Hội đồng Quản trị Giáo dục các trường Đại học (the University Council for Educational Administration) trao Giải thưởng Roald F. Campell về Thành quả Nghiên cứu (Roald F.Campbell Lifetime Achievement Award).

Giáo sư Philip Hallinger tốt nghiệp Tiến sĩ ngành Quản trị và Phân tích Chính sách tại Đại học Stanford (Hoa Kỳ). Ông cũng đã có 8 năm làm việc với cương vị là Giám đốc Học thuật và là Giáo sư Quản trị tại trường Quản lý (College of Management), thuộc Đại học Mahidol (Thái Lan). Ông từng có 13 năm là giáo sư về lãnh đạo và tổ chức, và là Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Cao cấp về Lãnh đạo Giáo dục tại Trường Peabody, thuộc Đại học Vanderbilt (Hoa Kỳ). Ông cũng từng là Giám đốc Trung tâm Châu Á Thái Bình Dương về Lãnh đạo và Thay đổi Giáo dục thuộc Viện Nghiên cứu Giáo dục Hong Kong. Hiện Ông là giáo sư của Trường Đại học Chulalongkorn (Thái Lan).

Luôn nhiệt huyết và hiệu quả cao trong các vai trò là tác giả, giảng viên và chuyên gia tư vấn, Giáo sư Hallinger đã có kinh nghiệm hơn 20 năm sống ở châu Á và làm việc với nhiều nhà lãnh đạo của các tổ chức giáo dục tư nhân lẫn nhà nước của nhiều quốc gia.

 

TS. Haiyan Hua
Nhà nghiên cứu và Giảng viên Cao cấp Trường Giáo dục Sau Đại Học, ĐH Harvard (Hoa Kỳ)

Tiến sĩ Haiyan Hua có 20 năm kinh nghiệm về giáo dục quốc tế (international education) tại Đại học Harvard. Ông đã từng là chuyên gia giáo dục quốc tế tại Viện Phát triển Quốc tế Harvard (HIID) cho đến năm 2000. 

Kể từ năm 2000 đến nay, ông là cố vấn cao cấp về giáo dục quốc tế và giữ vai trò giảng viên cao cấp của chương trình chính sách giáo dục quốc tế tại Trường  Giáo dục Sau Đại Học của Đại học Harvard (HGSE). Gần đây, Ông cũng tham gia World Education - một tổ chức quốc tế  phi chính phủ  có trụ sở đặt tại Boston, Hoa Kỳ với cương vị là cố vấn giáo dục cao cấp.

Nhiều năm qua, Ông cũng đã làm cố vấn chính sách giáo dục cho Bộ giáo dục và Chính phủ của hơn 20 quốc gia trên khắp thế giới, từ Châu Phi, Mỹ Latinh, Châu Á, Trung Âu và Đông Âu. Hoạt động chuyên môn của Ông tập trung vào nghiên cứu và hoạch định chính sách giáo dục; giám sát và đánh giá giáo dục; hệ thống thông tin quản lý giáo dục; phân tích, quản lý, thiết kế những dự án nghiên cứu định lượng có quy mô lớn. Ông đã chủ trì nhiều dự án nghiên cứu lớn, chẳng hạn như: Dự án nghiên cứu chính sách giáo dục dành cho phụ nữ và trẻ em(dự án 5 năm được tài trợ bởi USAID và thực hiện tại Nepal, Bolivia, và Honduras nhằm tìm ra tác động của các chương trình giáo dục căn bản đối với tình hình về kinh tế và xã hội của  phụ nữ. 

Gần đây nhất, Ông giữ trọng trách là người chủ nhiệm của các Dự án phát triển năng lực chính sách giáo dục ở Latvia và Lithuania (dự án của Ngân hàng Thế giới). Trong năm 2008, với tư cách là nhà tư vấn hàng đầu, ông đã giúp Bộ Giáo dục ở Lebanon và Ai Cập phát triển hệ thống giám sát, đánh giá hiệu quả của hệ thống giáo dục và các sáng kiến ​​cải tiến chất lượng quốc gia (dự án của Ngân hàng Thế giới ). Ông cũng đã hoàn tất Dự án quốc gia nghiên cứu về tình trạng bỏ học của học sinh ở Armenia cho Tổ chức Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc / UNICEF (2008). Hiện ông đang là Giám đốc của một trong những dự án xây dựng năng lực giám sát và đánh giá lớn nhất (USAID /Jordan 2010-2014). 

Trong suốt 18 năm qua, Ông đã giảng dạy “mô hình phát triển chính sách về giáo dục quốc tế” tại các chương trình giáo dục quốc tế dành cho các nhà lãnh đạo giáo dục tại HGSE - nơi hội tụ các nhà giáo dục, nhà hoạch định chính sách, nhà phân tích, và các đại diện tài trợ từ khắp nơi trên thế giới. Ông  tốt nghiệp tiến sĩ tại Đại học Harvard.

 

Học giả Bùi Văn Nam Sơn
Nhà nghiên cứu triết học (Việt Nam)

Ông Bùi Văn Nam Sơn là học giả có những đóng góp to lớn cho việc phổ biến và phát triển triết học tại Việt Nam trong suốt nhiều năm nay. Sau khi học triết học tại Đại học Văn khoa Sài Gòn từ 1964-1968, ông sang Đức, tiếp tục quá trình đào tạo về triết ở Đại học J. W. Goethe, Frankfurt/M, CHLB Đức. Ông là học trò ruột của hai nhà triết học hàng đầu thế giới còn sống hiện nay là Karl Otto Apel và Habermas.

Từ năm 2008 đến nay, ông tham gia sáng lập Dự án Văn hóa - Giáo dục Sách Hay và là Thành viên Ban thường trực Hội đồng Sáng lập của Dự án này. Ông cũng là Thành viên Hội đồng Trao giải của Giải Thưởng Sách Hay (một giải thưởng thường niên về sách nhằm truyền bá tri thức và gợi mở những xu hướng đọc sách, viết sách, dịch sách và làm sách tiến bộ).

Uyên bác và thành thạo nhiều thứ tiếng (Hy Lạp, Đức, Anh, Pháp, Hoa), ông đã sử dụng vốn tri thức khổng lồ về triết học và văn hóa cho các hoạt động giảng dạy, nghiên cứu và dịch thuật. Các dịch phẩm lớn của ông đều là những tác phẩm kinh điển, những tài sản tinh thần vô giá của nhân loại, chẳng hạn như: Phê phán lý tính thuần túy (Immanuel Kant), Nxb Văn học, 2004; Phê phán năng lực phán đoán (Immanuel Kant), Nxb Tri thức, 2007; Phê phán lý tính thực hành (Immanuel Kant), Nxb Tri thức, 2007; Hiện tượng học tinh thần (G. W. F. Hegel), Nxb Văn học, 2006; Bách khoa thư các khoa học triết học I: Khoa học logic (G.W.F Hegel), Nxb Tri thức, 2009; Các nguyên lý của triết học pháp quyền (G.W.F.Hegel), Nxb Tri thức, 2010; Chính thể đại diện (John Stuart Mill), dịch chung với Nguyễn Văn Trọng, Nxb Tri thức, 2008... Ngoài những dịch phẩm này, ông còn dịch và hiệu đính hàng loạt tác phẩm kinh điển khác cũng về đề tài triết học. 

Ông được trao giải thưởng dịch thuật của Quỹ văn hóa Phan Châu Trinh năm 2006 cho công trình dịch thuật tác phẩm “Phê phán lý tính thuần túy” (Nxb Văn học, 2004) của tác giả Immanuel Kant. Hiện nay ông nghiên cứu và giảng dạy triết học, viết báo về đề tài triết học và đề tài giáo dục, và là môt diễn giả nổi tiếng ở nhiều hội thảo, diễn đàn trong nước và quốc tế.

 

GS.TS. Nguyễn Văn Tuấn 
Đại học New South Wales (Úc)

Ông Nguyễn Văn Tuấn là một thành viên cao cấp của Hội đồng quốc gia nghiên cứu y tế và y khoa (Úc), và giáo sư y khoa thuộc Đại học New South Wales.  Giáo sư Tuấn lãnh đạo một chương trình nghiên cứu về di truyền loãng xương tại Viện nghiên cứu y khoa Garvan (Sydney, Úc).

Ông là một nhà khoa học giàu kinh nghiệm, với hơn 200 công trình khoa học đã công bố trên các tập san y khoa quốc tế và chỉ số H 47, phục vụ trong hội đồng ban biên tập và chuyên gia bình duyệt cho hơn 20 tập san y khoa trên thế giới. Ông thường được mời giảng trong các hội nghị quốc tế ở Hoa Kỳ, Âu châu, Á châu, và Việt Nam. Ngoài chuyên môn về loãng xương, ông còn quan tâm đến các vấn đề về giáo dục đại học và đánh giá khoa học, xuất phát từ quan điểm phương pháp học. Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn đã xuất bản 10 cuốn sách ở Việt Nam về y học thực chứng, loãng xương, thống kê học, và giáo dục. 

Ông đã đóng góp hơn 100 bài báo (tiếng Việt) về giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học. Một số bài viết đã được tập hợp thành 2 cuốn sách mới xuất bản, “Chất lượng giáo dục đại học: nhìn từ góc độ hội nhập” và “Đi vào nghiên cứu khoa học” (Nhà xuất bản Tổng Hợp 2011).

Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn từng được bằng khen từ Hội Y Học TPHCM, Hội Loãng Xương TPHCM, Hội Nội Tiết và Đái Tháo Đường, Ủy ban Nhân dân TPHCM, Ủy ban Nhân dân tỉnh Kiên Giang, và Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên, vì những đóng góp của Ông cho giáo dục và khoa học ở Việt Nam.

 

GS.TS. Jouni Välijärvi  
Giáo sư về Nghiên cứu Giáo dục, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Giáo dục Phần Lan (Phần Lan)

Giáo sư Jouni Välijärvi hiện là Viện trưởng của Viện Nghiên cứu Giáo dục Phần Lan tại Đại học Jyväskylä, Phần Lan. Ông tốt nghiệp Tiến sĩ tại Đại học Jyväskylä năm 1993. Qua nhiều năm làm việc trong vai trò là nhà nghiên cứu giáo dục và nhà quản lý giáo dục, hiện Ông đang là Giáo sư về nghiên cứu giáo dục tại Viện Nghiên cứu Giáo dục.

Ông đại diện cho Phần Lan tại IEA (Hiệp hội Quốc tế về Đánh giá Thành tựu Giáo dục / International Association for the Evaluation of Educational Achievement), và là Giám đốc Quốc gia của Chính phủ Phần Lan về chương trình nghiên cứu PISA của OECD.

Ông đã lãnh đạo hàng loạt các dự án nghiên cứu quốc tế và quốc gia về chương trình giảng dạy, đánh giá trường học, đào tạo giáo viên và phúc lợi học sinh, đồng thời ông cũng tham gia vào các nhóm chuyên gia trong nước và quốc tế như OECD và EU, và có nhiều dự án nghiên cứu được công bố rộng rãi trong lĩnh vực của mình.

Ông cũng được mời làm diễn giả chính tại nhiều hội nghị về hệ thống giáo dục, chương trình giảng dạy, đánh giá và đào tạo giáo viên trên khắp thế giới như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Argentina, Brazil, Chile, Colombia, Mexico và châu Âu.

 

GS.TS. Michael F. D. Young
Giáo sư Viện Giáo dục, ĐH London (Anh Quốc); Đồng khai sinh trường phái “Tân xã hội học giáo dục”

Michael Young là Giáo sư của Viện Giáo dục / Institute Of Education (IOE) thuộc Đại học London (Anh), Giáo sư thỉnh giảng về giáo dục tại Đại học Bath, và là nhà nghiên cứu của City and Guilds thuộc Học Viện London. Ông tốt nghiệp Cử nhân về khoa học tự nhiên tại Đại học Cambridge (Anh) và giảng dạy môn khoa học trong suốt 5 năm tại các trường trung học ở London. Sau một thời gian nghiên cứu về xã hội học, Ông tốt nghiệp Cử nhân và Thạc sĩ ngành xã hội học tại Đại học London và Đại học Essex, rồi được bổ nhiệm làm giảng viên dạy xã hội học giáo dục tại IOE vào năm 1967.

Năm 1971, Ông xuất bản quyển sách đầu tiên mang tên “Kiến thức và Kiểm soát:  Hướng đi mới cho xã hội học giáo dục” (“Knowledge and Control: New directions for the sociology of education”).

Năm 1986, ông được bổ nhiệm làm người đứng đầu của “Post 16 Education Centre” và có 10 năm nghiên cứu song song với giảng dạy trong lĩnh vực chính sách về giáo dục sau phổ thông và dạy nghề. Bên cạnh đó, Ông nắm trọng trách cố vấn  cho Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), Ngân hàng Thế giới (World Bank), Tổ chức Hợp tác Kỹ thuật Đức (GTZ), và một số chính phủ để nghiên cứu các khung tiêu chuẩn quốc gia. Ông còn là  phó biên tập cho Tạp chí Giáo dục và Việc làm (Journal of Education and Work), song song với làm biên tập cố vấn cho Tạp chí Diễn đàn Giáo dục Châu Á Thái Bình Dương (Pacific Asian Education Consortium Education Journal) và một số tạp chí khác trong lĩnh vực xã hội học giáo dục.

Những đóng góp của Giáo sư Michael  Young  trong lĩnh vực xã hội học giáo dục và chính sách giáo dục đã được thế giới công nhận rộng rãi. Các công trình nghiên cứu và những ấn phẩm nghiên cứu của Ông tập trung vào chương trình giảng dạy, chất lượng giáo dục phổ thông và dạy nghề, cũng như đưa ra các  lý thuyết về xã hội học giáo dục. 

Các tác phẩm gần đây nhất của Ông là “Chương trình giảng dạy của tương lai”  / “The Curriculum of the Future” (Routledge /Falmer, năm 1998), “Mang Kiến ​Thức Trở Lại” / “Bringing Knowledge Back In” (Routledge, 2008), và “Giáo dục nào cho nền kinh tế tri thức?” / “Educating for the Knowledge economy?” (Đồng tác giả với Hugh Lauder) (Routledge, 2011).

 

Hội đồng Khoa học (Scientific Board)

Hội đồng Khoa học của Viện sẽ được thành lập theo từng đề tài nghiên cứu của Viện (mỗi đề tài sẽ có một Hội đồng Khoa học). Thành viên của mỗi Hội đồng Khoa học sẽ bao gồm các nhà nghiên cứu trong và ngoài Viện, các nhà nghiên cứu trong và ngoài Hội đồng cố vấn khoa học, là chuyên gia trong lĩnh vực mà đề tài nghiên cứu thực hiện.

Hội đồng Khoa học sẽ giúp Chủ nhiệm đề tài (PI) và đội ngũ nghiên cứu:

- Xác lập định hướng nghiên cứu
- Phản biện đề cương nghiên cứu
- Đánh giá giữa kỳ
- Nghiệm thu đề tài